Sáng ngày 24/6, Liên hiệp Hội Việt Nam đã phối hợp với Hội Giống cây trồng Việt Nam tổ chức Hội thảo “Ứng dụng công nghệ trong sản xuất cây rau và hoa tại Hà Nội”.
Chủ trì Hội thảo có: PGS.TS Phạm Quang Thao, Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam; GS. Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam; ThS. Lê Thanh Tùng, Trưởng Ban Phổ biến kiến thức, Liên hiệp Hội Việt Nam.
Hội thảo “Ứng dụng công nghệ trong sản xuất cây rau và hoa tại Hà Nội”
Hội thảo có sự tham gia đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý và đại diện các viện nghiên cứu, hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp, hợp tác xã trong lĩnh vực giống cây trồng.
Xuyên suốt chương trình, các tham luận xoay quanh những vấn đề cấp thiết như định hướng phát triển ngành giống rau, hoa và quả giai đoạn 2025 - 2035; thực trạng nghiên cứu và sản xuất hoa lan; bảo tồn giống rau bản địa; chọn tạo giống ớt cay kháng bệnh và ứng dụng vi sinh trong sản xuất rau hữu cơ.
Định hướng ngành giống Rau-Hoa-Quả từ năm 2025-2035
Trong những năm gần đây, ngành giống rau - hoa - quả của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 2024 đạt 62,5 tỷ USD, trong đó riêng rau, hoa, quả đóng góp hơn 7 tỷ USD.
Việt Nam đã công nhận hơn 1.000 giống cây trồng và công bố lưu hành hơn 11.200 giống rau - hoa, bước đầu hình thành đội ngũ doanh nghiệp nội địa như Vinaseed, Việt Nông, Hạt giống Sen Vàng tham gia chọn tạo giống bằng công nghệ sinh học hiện đại. Một số giống mới như cà chua HPT10, dưa chuột CV29, ớt cay HB9 đã được lai tạo thành công, cho năng suất cao và phù hợp với chế biến công nghiệp.
Tuy nhiên, ngành giống rau - hoa - quả vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Tỷ lệ giống nhập khẩu chiếm trên 80% diện tích gieo trồng hàng năm, giá thành giống cao, năng lực nghiên cứu trong nước còn hạn chế. Trong gần 400 doanh nghiệp giống, chỉ khoảng 5% tham gia nghiên cứu, sản xuất thực chất. Việc tạo giống chống chịu sâu bệnh, phù hợp với điều kiện khí hậu bất lợi còn phụ thuộc nhiều vào nguồn gen nhập khẩu.
GS.VS Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam phát biểu tại Hội thảo
GS.VS Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam khẳng định: “Trước thực trạng đó, định hướng giai đoạn 2025–2035 cần tập trung vào việc phát triển công nghiệp giống nội địa. Việt Nam cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ chọn tạo hiện đại như lai ưu thế, chỉ thị phân tử, chỉnh sửa gen, bất dục đực tế bào chất… Đồng thời, ưu tiên tạo giống phù hợp cho nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu và xuất khẩu, hướng tới hình thành thương hiệu quốc gia về giống rau – hoa – quả”.
Giá trị xuất khẩu hoa lan chỉ đạt 10 - 15 triệu USD/năm
Việt Nam hiện đang sở hữu nguồn gen hoa lan phong phú với hơn 1.200 loài thuộc 154 chi, phân bố trên khắp 6 vùng sinh thái, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu và phát triển sản xuất. Các hoạt động nghiên cứu hoa lan hiện tập trung tại Viện Di truyền nông nghiệp, Viện Rau quả, Đại học Nông nghiệp và một số trung tâm tại Đà Lạt.
Nội dung nghiên cứu chủ yếu xoay quanh bảo tồn nguồn gen, nhận dạng loài bằng chỉ thị phân tử, lai tạo giống mới, xử lý đột biến và nuôi cấy mô. Một số giống lai ưu tú đã được công nhận như Ban Mai Hồng, Trường Xuân, HĐT1, HĐT2... góp phần cải thiện khả năng chống chịu và giá trị thương mại.
GS.TSKH Trần Duy Quý, Hiệp hội sản xuất kinh doanh hoa lan Việt Nam chia sẻ: “Mặc dù đã có nhiều thành tựu, sản xuất hoa lan tại Việt Nam vẫn còn manh mún, quy mô nhỏ, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, với diện tích chiếm chưa tới 10% tổng diện tích trồng hoa. Giá trị xuất khẩu còn khiêm tốn, chỉ đạt 10–15 triệu USD/năm, chủ yếu từ lan cắt cành.
Việc nhân giống vẫn phụ thuộc vào nguồn giống nhập khẩu, hạ tầng kỹ thuật và công nghệ sau thu hoạch còn yếu. Để phát triển bền vững, ngành hoa lan cần được đầu tư mạnh hơn về công nghệ, chính sách tín dụng, thị trường tiêu thụ và xây dựng thương hiệu hoa lan Việt trên thị trường quốc tế”.
GS.TSKH Trần Duy Quý, Hiệp hội sản xuất kinh doanh hoa lan Việt Nam phát biểu
Hà Nội đặt mục tiêu phát triển 52.000ha hoa và cây cảnh vào 2030
Nếu như hoa lan đang từng bước khẳng định vai trò là ngành hàng giá trị cao, thì toàn bộ lĩnh vực hoa và cây cảnh ở Việt Nam, đặc biệt tại Hà Nội, cũng đang có nhiều chuyển biến tích cực cả về quy mô và chất lượng.
Tính đến năm 2023, diện tích trồng hoa và cây cảnh của Hà Nội đạt khoảng 8.100 ha, tăng mạnh so với đầu những năm 2000. Các vùng chuyên canh như Mê Linh, Tây Hồ, Bắc Từ Liêm không chỉ mở rộng diện tích mà còn đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao như nhà lưới, hệ thống tưới nhỏ giọt, giống hoa mới... nhờ đó mang lại thu nhập từ 500 triệu đến hơn 2 tỷ đồng/ha/năm.
Trong đó, lan hồ điệp tiếp tục là điểm sáng khi được tổ chức sản xuất theo mô hình công nghiệp, cho hiệu quả kinh tế cao và từng bước cạnh tranh được với hoa nhập khẩu. Tuy nhiên, ngành hoa và cây cảnh vẫn đối mặt với nhiều thách thức như sản xuất nhỏ lẻ, phụ thuộc giống ngoại, công nghệ sau thu hoạch chưa hoàn thiện và thiếu liên kết chuỗi.
Hướng tới năm 2030, Hà Nội đặt mục tiêu phát triển 52.000ha hoa – cây cảnh, chủ động chọn tạo giống, xây dựng thương hiệu đặc trưng vùng miền và mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước đưa ngành hoa trở thành mũi nhọn kinh tế nông nghiệp đô thị.
Ứng dụng công nghệ cao trong nuôi trồng hoa
Bên cạnh hoa và cây cảnh, rau cũng đang trở thành một ngành hàng nông sản có giá trị kinh tế cao và tiềm năng xuất khẩu lớn. Việt Nam hiện có gần 1 triệu ha đất trồng rau với sản lượng hơn 18 triệu tấn/năm, bình quân đầu người đạt 187 kg rau/năm, cao gần gấp đôi mức trung bình thế giới. Tuy nhiên, dù sản lượng tăng nhanh nhờ ứng dụng công nghệ cao và giống lai, thì ngành giống rau vẫn phụ thuộc quá lớn vào nguồn nhập khẩu.
Hiện nay, hơn 80% lượng hạt giống rau tại Việt Nam được nhập ngoại, chủ yếu từ các công ty lớn như Monsanto, Bayer, Syngenta hay Sakata. Trong khi đó, các viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước mới chỉ sản xuất được khoảng 5-10% nhu cầu.
Nguyên nhân chủ yếu đến từ hạn chế về kỹ thuật chọn tạo giống đối với các cây rau khó ra hoa tại điều kiện nhiệt đới. Tuy vậy, một số doanh nghiệp tiên phong như Việt Nông, Sen Vàng, Vinaseed... đã bước đầu tạo được các giống rau mới như cà chua, dưa chuột, bí, đậu đũa, với năng suất cao hơn giống nhập từ 10–15%.
Hướng đi sắp tới là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học như bất dục đực tế bào chất (CMS), giống đơn tính cái (gynoecious), chọn tạo giống phù hợp với chế biến và kháng sâu bệnh nhằm giảm giá thành, chủ động sản xuất trong nước và tiến tới xuất khẩu giống rau “Made in Vietnam”.
Hội thảo khép lại thành công rực rỡ
Hội thảo “Ứng dụng công nghệ trong sản xuất cây rau và hoa tại Hà Nội” đã khép lại với nhiều kiến nghị, đề xuất thiết thực từ các chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp trong ngành.
Từ hoa lan, hoa cảnh đến rau xanh, tất cả đều cho thấy tiềm năng to lớn của ngành giống cây trồng Việt Nam nếu được đầu tư bài bản, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại và có chiến lược phát triển đồng bộ.
Trong bối cảnh nông nghiệp đô thị và sản xuất nông sản công nghệ cao đang là xu thế tất yếu, việc chủ động nghiên cứu, chọn tạo và làm chủ công nghệ giống cây trồng không chỉ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, mà còn tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam tiến tới xây dựng thương hiệu quốc gia về giống Rau – Hoa – Quả.
Đây không chỉ là yêu cầu phát triển bền vững, mà còn là cơ hội để nông nghiệp Việt Nam khẳng định vị thế trên bản đồ nông nghiệp thế giới.
Sao BiểnBạn đang xem bài viết Chủ động nguồn giống: Chìa khóa phát triển rau và hoa công nghệ cao tại Hà Nội tại chuyên mục Nghiên cứu Khoa học của Gia Đình Mới, tạp chí chuyên ngành phổ biến kiến thức, kỹ năng sống nhằm xây dựng nếp sống gia đình văn minh, tiến bộ, vì bình đẳng giới. Tạp chí thuộc Viện Nghiên cứu Giới và Phát triển (Liên Hiệp Các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam), hoạt động theo giấy phép 292/GP-BTTTT. Bài viết cộng tác về các lĩnh vực phụ nữ, bình đẳng giới, sức khỏe, gia đình gửi về hòm thư: [email protected].
















