Chiều 4/9, tại Hà Nội, Viện Đông y Việt Nam tổ chức tọa đàm “Phát triển dược liệu sạch, khởi nguồn giá trị y học cổ truyền từ nông nghiệp bền vững”, với sự tham dự của các nhà khoa học, đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp và hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực dược liệu.
Các chuyên gia nhận định ngành dược liệu Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ khai thác tự phát, sản xuất manh mún sang chuẩn hóa quy trình, ứng dụng công nghệ và hình thành chuỗi giá trị từ vùng trồng đến sản phẩm.
Việt Nam sở hữu hơn 5.117 loài cây thuốc và nấm được sử dụng làm dược liệu
PGS.TS Nguyễn Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Đông y Việt Nam, cho biết Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, với hơn 5.117 loài cây thuốc và nấm, 408 loài động vật, 52 loài tảo biển và 75 loại khoáng vật được sử dụng làm thuốc.
Đây là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển y học cổ truyền, công nghiệp dược và kinh tế sinh học. Tuy nhiên, tiềm năng này chưa được khai thác tương xứng.
Theo DSCKI Ngô Mạnh Trí, Viện Đông y Việt Nam, nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước hiện khoảng 60.000-80.000 tấn mỗi năm.
Dược sĩ Ngô Mạnh Trí, Cố vấn Viện Đông y Việt Nam, phát biểu tại toạ đàm
Trong khi đó, nguồn cung trong nước mới đáp ứng khoảng 25-30% nhu cầu nên Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn dược liệu.
Cả nước có khoảng 350.000 ha có khả năng canh tác, phát triển dược liệu, gồm hơn 220.000 ha đất lâm nghiệp, dưới tán rừng và hơn 130.000 ha đất nông nghiệp. Tuy nhiên, diện tích trồng cây dược liệu hiện mới gần 59.000 ha.
Một trong những điểm nghẽn được các chuyên gia chỉ ra là nhiều vùng trồng vẫn manh mún, nhỏ lẻ, khó áp dụng công nghệ cao và chưa hình thành được chuỗi giá trị khép kín.
Số vùng trồng tập trung đạt tiêu chuẩn GACP-WHO còn ít, trong khi liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân chưa chặt chẽ.
Việc khai thác quá mức, thiếu kiểm soát cũng khiến một số nguồn gen dược liệu quý đứng trước nguy cơ suy kiệt. Tình trạng thu hái tự nhiên theo kiểu tận thu, không chú trọng tái sinh vẫn diễn ra.
Ở chiều ngược lại, nhiều sản phẩm dược liệu trong nước mới dừng ở sơ chế hoặc xuất thô nên giá trị gia tăng thấp, khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế chưa tương xứng với tiềm năng.
Không chỉ thiếu vùng nguyên liệu đạt chuẩn, đầu ra cũng là bài toán lớn đối với người trồng.
Theo PGS.TS Nguyễn Tuấn Hưng, thực tế có hợp tác xã trồng hàng trăm tấn dược liệu nhưng sau khi thu hoạch không tìm được nơi tiêu thụ.
“Có những hợp tác xã trồng hàng trăm, vài trăm tấn dược liệu, thu hái xong nhưng không bán được vì không có đầu ra, để thành cỏ”, ông Hưng nói.
PGS.TS Nguyễn Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Đông y Việt Nam, chia sẻ về những điểm nghẽn trong phát triển dược liệu hiện nay
ThS Hoàng Thị Yến, giảng viên Khoa Dược, Trường Đại học Đông Đô, cho rằng liên kết giữa nghiên cứu khoa học và phát triển dược liệu vẫn còn nhiều khoảng trống. Không ít vùng sản xuất chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, thiếu quy trình chuẩn hóa và nguồn vốn đầu tư dài hạn.
Theo bà Yến, khoa học công nghệ có thể trở thành “chìa khóa” nâng giá trị dược liệu, từ bảo tồn nguồn gen, lựa chọn giống có hàm lượng hoạt chất cao, thích ứng với biến đổi khí hậu đến nghiên cứu tiền lâm sàng, lâm sàng nhằm chứng minh tính an toàn và hiệu quả của sản phẩm.
Các chuyên gia cho rằng cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo, nhân giống sạch bệnh; bảo tồn nguồn gen dược liệu quý, đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng và từng bước xây dựng ngân hàng gen dược liệu quốc gia.

Mục tiêu đặt ra là 80-90% nguồn giống dược liệu đưa vào sản xuất đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Cùng với đó, chuyển đổi số có thể được ứng dụng trong quản lý vùng trồng, chế biến và truy xuất nguồn gốc, giúp kiểm soát chất lượng dược liệu từ nơi sản xuất đến sản phẩm cuối cùng.
Theo các đại biểu, để tránh tình trạng “được mùa mất giá” hoặc trồng dược liệu nhưng không tìm được đầu ra, cần hình thành chuỗi liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân.
Trong đó, doanh nghiệp được xác định đóng vai trò quan trọng trong việc đặt hàng vùng nguyên liệu, kết nối nghiên cứu khoa học, hỗ trợ kỹ thuật trồng, thu hái, chế biến và bao tiêu sản phẩm.
Nhà nước cần quy hoạch các vùng trồng tập trung phù hợp với điều kiện từng địa phương, ưu tiên cây dược liệu bản địa có lợi thế; đồng thời xây dựng tiêu chuẩn quốc gia đối với dược liệu và vị thuốc cổ truyền.
Các chuyên gia cũng đề nghị tăng kiểm soát chất lượng dược liệu nhập khẩu, đặc biệt với nguồn hàng không rõ xuất xứ hoặc đi qua đường tiểu ngạch, nhằm bảo vệ sản xuất trong nước và chất lượng nguyên liệu sử dụng làm thuốc.
Các chuyên gia cho rằng khoa học là “chìa khóa” nâng tầm giá trị dược liệu Việt Nam.
Theo định hướng của ngành y tế, thời gian tới, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và công nghệ sinh học sẽ được tăng cường trong nuôi trồng, chế biến, bảo quản và truy xuất nguồn gốc dược liệu.
Cùng với đó là thúc đẩy chuyển giao kỹ thuật và thu hút các doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt chuỗi cung ứng.
PGS Nguyễn Tuấn Hưng cho rằng phát huy thế mạnh dược liệu không chỉ giúp gìn giữ giá trị của y học cổ truyền mà còn mở ra dư địa phát triển sản phẩm có giá trị cao, góp phần đưa nguồn tài nguyên dược liệu của Việt Nam phục vụ tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân.