Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) vừa công bố dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo là tăng cường quản trị dựa trên dữ liệu, thay cho phương thức quản lý chủ yếu dựa vào báo cáo hành chính như trước đây.
Theo đó, dữ liệu về người học, đội ngũ giảng viên, điều kiện bảo đảm chất lượng và kết quả hoạt động của cơ sở giáo dục đại học được cập nhật, kết nối và đồng bộ trên Hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học (HEMIS). Các tiêu chuẩn, tiêu chí được xây dựng theo hướng tăng tính định lượng, bảo đảm sự thống nhất giữa tiêu chí, chỉ số đánh giá và phương pháp xác định, qua đó nâng cao khả năng kiểm chứng, đối sánh và tự động hóa dữ liệu.
Cụ thể, có 19 tiêu chuẩn được Bộ GD-ĐT đề xuất. Trong đó quy định tỷ lệ người học quy đổi theo trình độ, lĩnh vực và hình thức đào tạo trên giảng viên quy đổi không lớn hơn 40; giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động trên giảng viên không thấp hơn 70%.
Tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ phải đạt tối thiểu 20% và từ năm 2030 không thấp hơn 30% đối với cơ sở giáo dục đại học không đào tạo tiến sĩ; không thấp hơn 5% và từ năm 2030 không thấp hơn 10% đối với các trường đào tạo ngành đặc thù không đào tạo tiến sĩ.
Không thấp hơn 40% và từ năm 2030 không thấp hơn 50% đối với cơ sở giáo dục đại học có đào tạo tiến sĩ; không thấp hơn 10% và từ năm 2030 không thấp hơn 15% đối với các trường đào tạo ngành đặc thù có đào tạo tiến sĩ.
Về cơ sở vật chất, Bộ GD-ĐT đề xuất, từ năm 2030, diện tích đất (có hệ số theo vị trí khuôn viên) tính bình quân trên một người học chính quy quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo không nhỏ hơn 25 m2.
Diện tích sàn xây dựng phục vụ đào tạo trên số người học chính quy quy đổi theo trình độ và lĩnh vực đào tạo không nhỏ hơn 2,8 m2; ít nhất 70% giảng viên được bố trí chỗ làm việc riêng biệt.
Ngoài ra, hệ thống thư viện và học liệu phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và học tập của người học; bảo đảm độ phủ học liệu của các chương trình đào tạo đang triển khai đạt 100% và tỷ lệ giảng viên, người học tiếp cận, khai thác, sử dụng học liệu theo phương thức trực tiếp hoặc trực tuyến đạt tối thiểu 60%.
Bộ GD-ĐT quy định, cơ sở giáo dục đại học duy trì được chất lượng và hiệu quả về tuyển sinh, đào tạo và hỗ trợ người học.
Theo đó, tỷ lệ nhập học trên số chỉ tiêu công bố trong kế hoạch tuyển sinh hằng năm, tính trung bình 3 năm gần nhất không thấp hơn 50%; quy mô đào tạo không sụt giảm quá 30% so với 3 năm trước, trừ trường hợp việc giảm quy mô nằm trong định hướng phát triển của cơ sở giáo dục đại học đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc đã được công bố công khai trước đó ít nhất 2 năm.
Đáng chú ý, tỷ lệ thôi học, không tiếp tục theo học hằng năm không cao hơn 10% và riêng đối với người học năm đầu không cao hơn 15%.

Tỷ lệ người tốt nghiệp đại học có việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo, tự tạo việc làm hoặc học tiếp trình độ cao hơn trong thời gian 12 tháng sau khi tốt nghiệp, không thấp hơn 70%.
Một điểm mới đáng chú ý khác của dự thảo là hoàn thiện cơ chế đánh giá theo hướng phản ánh đúng đặc thù của từng loại hình và lĩnh vực đào tạo.
Lần đầu tiên, dự thảo bổ sung các chỉ số đặc thù đối với cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực Pháp luật và lĩnh vực Sức khỏe. Việc bổ sung các chỉ số riêng giúp hoạt động đánh giá gắn chặt hơn với yêu cầu năng lực nghề nghiệp, chuẩn đầu ra và trách nhiệm xã hội của từng lĩnh vực đào tạo.
Dự thảo cũng hoàn thiện cơ chế áp dụng đối với đại học quốc gia, đại học vùng, cơ sở giáo dục đại học có trường thành viên, phân hiệu hoặc đào tạo đa lĩnh vực; làm rõ cơ chế phân bổ nguồn lực dùng chung và nguyên tắc chống tính trùng dữ liệu trong quá trình đánh giá.
Những điều chỉnh này giúp kết quả đánh giá phản ánh thực chất hơn chất lượng hoạt động của từng đơn vị, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học sử dụng hiệu quả nguồn lực, phát huy quyền tự chủ và nâng cao năng lực quản trị.